Chính sách xếp hạng đại học ở Việt Nam: hiệu quả chính sách và khuyến nghị về một “Bảng xếp hạng Việt Nam”

Trong bối cảnh Việt Nam, thập kỷ qua đã chứng kiến sự chú trọng cao độ vào việc cải thiện thứ hạng đại học, được thúc đẩy bởi các chính sách của chính phủ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Đã đến lúc cần một bảng xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam?

Xếp hạng đại học đã trở thành một đặc điểm nổi bật trong bối cảnh giáo dục đại học toàn cầu, ảnh hưởng đến nhận thức về sự xuất sắc trong học thuật và chất lượng của trường. Mong muốn được quốc tế công nhận và khát vọng thu hút nhân tài hàng đầu cũng như nguồn tài trợ nghiên cứu đã thúc đẩy Việt Nam tham gia vào bảng xếp hạng đại học. Các bảng xếp hạng uy tín toàn cầu, chẳng hạn như Bảng xếp hạng Đại học Thế giới QS và Bảng xếp hạng Đại học Thế giới Times Higher Education, đã trở thành tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả hoạt động của các trường. Ở trong nước, Việt Nam cũng đã phát triển hệ thống xếp hạng riêng (nhưng chưa thành quy định của Chính phủ) để đánh giá và so sánh các trường đại học trong nước. Hiện nay có thể kể tới bảng xếp hạng đại học UPM, viết đầy đủ là University Performance Metrics, do GS. Nguyễn Hữu Đức, Đại học Quốc gia Hà Nội, khởi xướng, phát triển (https://upm.vn/). Gần đây, năm 2023, Vietnam University Ranking (VNUR) được ra mắt, giới thiệu bởi GS. Nguyễn Lộc (https://vnur.vn/).

Chính phủ Việt Nam đã thực hiện một loạt chính sách nhằm nâng cao vị thế của các trường đại học trong bảng xếp hạng toàn cầu. Các chính sách này bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm nghiên cứu học thuật, trình độ giảng viên, phát triển cơ sở hạ tầng và quốc tế hóa. Mục tiêu bao trùm là tạo ra một môi trường thuận lợi để các trường đại học phát triển vượt trội, không chỉ đáp ứng nhu cầu giáo dục trong nước mà còn đạt được sự công nhận quốc tế.

Một trong những lĩnh vực chính được chính phủ nhắm đến là nâng cao kết quả nghiên cứu (tiếp cận quốc tế, theo hướng ưu tiên công bố khoa học trên các hệ thống xuất bản học thuật uy tín quốc tế) và sự xuất sắc trong học tập. Chính phủ đã tiến hành các biện pháp nhằm tăng tài trợ cho các dự án nghiên cứu, thành lập các trung tâm nghiên cứu và khuyến khích giảng viên tham gia vào các nghiên cứu có tác động cao (gần đây, cùng với Toán học, khoa học tự nhiên, là khoa học máy tính, vật liệu bán dẫn,…). Ý tưởng là tạo ra một hệ sinh thái thúc đẩy đổi mới, thu hút giảng viên hàng đầu và định vị các trường đại học Việt Nam là nơi đóng góp cho tri thức toàn cầu.

Đồng thời, toàn cầu hóa đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hợp tác quốc tế và môi trường học thuật đa dạng. Các chính sách của chính phủ đã khuyến khích và yêu cầu các trường đại học thiết lập quan hệ đối tác với các tổ chức quốc tế, thúc đẩy trao đổi sinh viên và giảng viên cũng như cung cấp các chương trình đào tạo theo các chuẩn quốc tế, thường thì sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh. Những sáng kiến này nhằm nâng cao vị thế quốc tế của các trường đại học Việt Nam, một yếu tố thường được cân nhắc nhiều trong bảng xếp hạng toàn cầu.

Cơ sở hạ tầng của các trường đại học đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc học tập và nghiên cứu cũng như hội nhập quốc tế. Các chính sách tập trung vào phát triển cơ sở vật chất hiện đại, phòng thí nghiệm được trang bị tốt và công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao trải nghiệm tổng thể của trường đại học. Điều này không chỉ thu hút sinh viên mà còn góp phần tạo nên nhận thức chung về chất lượng trường trong bảng xếp hạng toàn cầu.

Cuối cùng, chất lượng giảng viên là yếu tố quan trọng trong xếp hạng đại học. Các chính sách thúc đẩy phát triển giảng viên thông qua bằng cấp cao, tiếp xúc quốc tế và cơ hội nghiên cứu đã được thực hiện để đảm bảo lực lượng lao động học thuật có trình độ cao, chẳng hạn qua các đề án hỗ trợ nghiên cứu sinh đi học nước ngoài, ... Điều này dự kiến sẽ tác động tích cực đến kết quả nghiên cứu, trải nghiệm của sinh viên và danh tiếng học thuật tổng thể của các trường đại học.

Mặc dù đã có những nỗ lực đáng khen ngợi nhằm điều chỉnh các chính sách phù hợp với các chỉ số xếp hạng toàn cầu nhưng vẫn tồn tại những thách thức trong việc thực hiện hiệu quả các chính sách này. Thiếu kinh phí, sự chênh lệch giữa các trường và sự khác biệt trong cách giải thích và áp dụng chính sách cản trở sự tiến bộ thống nhất của các trường đại học. Việc tham gia vào hoạt động kiểm định vẫn còn cầm chừng; vẫn còn thiếu chính sách bắt buộc mạnh mẽ hơn cho việc tiến hành các hoạt động xếp hạng đại học; hợp tác quốc tế một cách bình đẳng ít nhất từ góc độ học thuật còn là một thách thức lớn; cơ sở hạ tầng còn rất hạn chế trong nhiều cơ sở giáo dục đại học là một thực tế trong bối cảnh nhiều văn bản luật chồng chéo, khó triển khai trong quản lí tài chính và tài sản cố định;  … là những thách thức còn phải tiếp tục có những chính sách phù hợp hơn.

Hiệu quả của các chính sách của Chính phủ trong việc nâng cao thứ hạng đại học là sự đánh giá nhiều mặt. Mặc dù đã có những phát triển tích cực nhưng tác động mang nhiều sắc thái và khác nhau giữa các tổ chức. Một số trường đại học đã có những tiến bộ đáng kể (có cả khối công và tư), thể hiện qua việc cải thiện thứ hạng toàn cầu, trong khi những trường khác tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức.

Bảng xếp hạng đại học toàn cầu, mặc dù có ảnh hưởng lớn nhưng cũng có những hạn chế trong việc nắm bắt toàn bộ tác động của trường đại học đối với xã hội. Việc nhấn mạnh vào kết quả nghiên cứu, quốc tế hóa và danh tiếng học thuật trong các bảng xếp hạng này có thể chưa thể hiện đầy đủ vai trò rộng lớn hơn của các trường đại học trong việc giải quyết các thách thức địa phương, góp phần phát triển khu vực và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng.

Rõ ràng, cần thiết một “bảng xếp hạng đại học quốc gia” mà nên chăng tất cả các cơ sở giáo dục phải tham gia, tương tự như chính sách của Trung Quốc. Thiết nghĩ, nếu tiến hành yêu cầu mang tính chính sách này, sẽ có những đổi mới mạnh mẽ hơn về chất lượng giáo dục đại học đại trà. Đồng thời, nhà nước có điều kiện xác định đầu tư hay không đầu tư cho những cơ sở giáo dục đại học, nhằm đạt được mục tiêu phát triển khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho giai đoạn tới, bởi giáo dục đại học là nút quan trọng nhất của mục tiêu này.

Minh Anh tổng hợp

Tài liệu tham khảo

Quốc tế hóa giáo dục đại học thông qua điểm định và công nhận chất lượng (2022). Đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp. Báo nhân dân (điện tử). https://nhandan.vn/quoc-te-hoa-giao-duc-dai-hoc-thong-qua-kiem-dinh-va-cong-nhan-chat-luong-post719964.html

Trần Thị Minh Tuyết (2022). Đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Cộng sản. 

Trung tâm Truyền thông Giáo dục (2020). Cần chính sách đột phá cho giáo dục đại học. Trang thông tin điện tử tổng hợp của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 

University Performance Metrics. https://upm.vn/

Vietnam University Ranking. https://vnur.vn/

Vương Quốc Thắng (2023). Gắn kết giáo dục đại học với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - nền tảng phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tạp chí Cộng sản. 

Hội thảo quốc tế

Hội thảo quốc gia

Phòng, chống COVID-19