Nâng cao năng lực đội ngũ - Yếu tố quyết định phát triển giáo dục toàn diện
Trong số giáo viên ở vùng đồng bào DTTS, có khoảng 53% là người dân tộc thiểu số và 47% là người Kinh. Điều này đặt ra một thách thức là giáo viên người Kinh khi dạy trẻ em vùng đồng bào DTTS cần học và sử dụng tiếng dân tộc để giao tiếp hiệu quả hơn với học sinh. Do đó, cần đẩy mạnh truyền thông để thấy rõ việc tăng cường tiếng Việt trên cơ sở phát huy, bảo tồn tiếng dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng, đồng thời nâng cao nhận thức về vai trò của đội ngũ này.
Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên là nhân tố quyết định sự thành bại của quá trình dạy học. Để nâng cao chất lượng giảng dạy, cần đặc biệt chú trọng vào việc bồi dưỡng chuyên môn và kỹ năng sư phạm cho cả cán bộ quản lý và giáo viên.
Tập huấn về quản lý giáo dục đặc thù: Cán bộ quản lý cần được trang bị kiến thức và kỹ năng về quản lý trường học ở vùng DTTS, bao gồm việc hiểu rõ đặc điểm văn hóa, ngôn ngữ của học sinh, cách thức xây dựng môi trường học tập đa văn hóa, và quản lý các chương trình tăng cường tiếng Việt; Nâng cao năng lực lãnh đạo chuyên môn: Hướng dẫn cán bộ quản lý trong việc xây dựng kế hoạch chuyên môn, tổ chức sinh hoạt chuyên đề, và giám sát, đánh giá hiệu quả giảng dạy của giáo viên, đặc biệt trong môn tiếng Việt; Phát triển kỹ năng truyền thông: Giúp cán bộ quản lý có khả năng truyền thông hiệu quả về tầm quan trọng của việc học tiếng Việt, đồng thời vận động cộng đồng, phụ huynh cùng tham gia vào quá trình giáo dục.
Với giáo viên, hoạt động nâng cao năng lực cũng phong phú và đa dạng, như: Các lớp tập huấn chuyên sâu về phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh DTTS: Đây là yếu tố then chốt để giúp giáo viên nắm bắt được đặc điểm tâm lý, khả năng tiếp thu của học sinh, từ đó áp dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp như dạy tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai, sử dụng trò chơi, hình ảnh trực quan, và các hoạt động trải nghiệm; Bồi dưỡng về ngôn ngữ và văn hóa dân tộc: Khuyến khích và tạo điều kiện cho giáo viên người Kinh học tiếng dân tộc thiểu số tại địa phương để giao tiếp tốt hơn với học sinh và phụ huynh, đồng thời hiểu sâu sắc hơn về văn hóa bản địa để lồng ghép vào bài giảng; Chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau: Các hội thảo chuyên đề, chương trình trao đổi kinh nghiệm giảng dạy giữa các vùng miền sẽ giúp giáo viên cập nhật kiến thức mới và tự tin hơn trong công việc. Nhiều giáo viên đã thử nghiệm các phương pháp giảng dạy sáng tạo, sau đó chia sẻ lại cho đồng nghiệp, tạo nên một cộng đồng học tập tích cực và hỗ trợ lẫn nhau; Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy: Đào tạo giáo viên sử dụng hiệu quả các phần mềm, nền tảng học trực tuyến, và các công cụ số để làm phong phú thêm bài giảng và tăng cường tương tác với học sinh.
Các địa phương cũng cần thực hiện kịp thời, đầy đủ các chế độ chính sách đối với cán bộ quản lý và giáo viên thực hiện tăng cường tiếng Việt theo quy định; quan tâm hỗ trợ theo điều kiện vùng miền, thực tế tham gia và hiệu quả thực hiện. Đồng thời, cần hỗ trợ các hoạt động biên soạn tài liệu địa phương, kết hợp với các hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu phát triển văn hóa địa phương. Chính sách hỗ trợ từ nhà nước và các tổ chức là yếu tố quan trọng. Tăng cường đãi ngộ, tạo điều kiện để cán bộ quản lý và giáo viên có thể yên tâm công tác tại những vùng sâu, vùng xa sẽ góp phần thu hút nhân tài và đảm bảo chất lượng giảng dạy lâu dài.
Đổi mới phương pháp giảng dạy: Lấy học sinh làm trung tâm
Phương pháp giảng dạy có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả học tập của học sinh, đặc biệt với nhóm học sinh DTTS, những em thường gặp rào cản về ngôn ngữ. Việc áp dụng các phương pháp lấy học sinh làm trung tâm không chỉ giúp các em dễ dàng tiếp thu kiến thức mà còn tạo động lực học tập. Giáo viên cần thiết kế các bài học linh hoạt, phù hợp với trình độ và văn hóa của học sinh.
Hiện nay, các trường tiểu học vùng DTTS đã triển khai dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh theo bộ tài liệu hướng dẫn chuyên biệt như: “Em nói tiếng Việt lớp 1” (sách học sinh), “Tăng cường tiếng Việt lớp 2” và “Bộ tranh kể chuyện (Em nói tiếng Việt)”. Các nhà trường đã vận dụng linh hoạt phương pháp dạy học tiếng Việt theo phương châm dạy ngôn ngữ thứ hai cho học sinh DTTS, chú trọng tăng thời gian luyện nói, tổ chức các hoạt động ngoại khóa hoặc kết nối thư viện với lớp học thông qua tiết đọc sách, kể chuyện theo sách tại thư viện.

Các em học sinh DTTS Trường Tiểu học Liêng Srônh, Lâm Đồng học bài sau giờ đến lớp.
Bên cạnh đó, việc sáng tạo các tiết học tiếng Việt với nhiều hình thức khác nhau là rất quan trọng: Các hoạt động tương tác: Hội thoại, học bằng hình ảnh trực quan, trò chơi; Hoạt động ngoại khóa: Các hoạt động Đội, hoạt động múa hát tập thể, hoạt động trải nghiệm; Phát triển kỹ năng ngôn ngữ: Kể chuyện theo sách, tô, vẽ, đếm; tổ chức cho học sinh thi đọc thơ, thi hát, kể chuyện bằng tiếng Việt.
Trong giao tiếp hàng ngày, giáo viên luôn tạo thói quen cho học sinh thường xuyên sử dụng tiếng Việt. Nội dung giao tiếp được lồng ghép vào các hoạt động chào hỏi, tự thuật, mô tả các sự vật, hiện tượng trong môi trường xung quanh, giúp các em tăng cường vốn tiếng Việt và khả năng sử dụng tiếng Việt, gỡ bỏ rào cản ngôn ngữ. Từ đó, các em tiếp thu tốt hơn các môn học chính khóa trong chương trình giáo dục phổ thông.
Các nhà trường cũng chú trọng nâng cao hoạt động chuyên môn, tập huấn nhiều phương pháp giáo dục hiện đại để giúp học sinh người DTTS học tập bằng tiếng Việt. Ví dụ, Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học Lượng Minh (Tương Dương, Nghệ An) đã tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề về các phương pháp dạy học thông qua trò chơi. Theo các thầy, cô giáo, phương pháp này phát huy rất tốt trong quá trình dạy và học, đặc biệt đối với học sinh lớp 1, giúp các em giao tiếp nhiều hơn, tự tin hơn trong sử dụng tiếng Việt để học tập và giao tiếp.
Tương tự, những tiết dạy chuyên đề tăng cường tiếng Việt tại Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ba Tầng (Hướng Hóa, Quảng Trị), được tổ chức hàng năm, đã thực sự giúp nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường. Các tiết chuyên đề này góp phần giúp học sinh vượt qua rào cản ngôn ngữ, đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Tiếng Việt, hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học, tạo tiền đề cho học sinh lĩnh hội tri thức ở các cấp học tiếp theo. Đồng thời, chúng cũng giúp giáo viên nắm thêm nội dung tăng cường tiếng Việt để đưa vào kế hoạch từng chủ đề và lồng ghép linh hoạt trong các hoạt động.
|
Ứng dụng công nghệ, xây dựng môi trường học tập thân thiện
Ứng dụng công nghệ trong giảng dạy là một giải pháp hiệu quả. Giáo viên có thể tham khảo và sử dụng các nền tảng trực tuyến, phần mềm học tập, video minh họa sinh động, hoặc bài giảng trực tuyến để giúp học sinh dễ dàng tiếp cận ngôn ngữ, hứng thú với bài học và dần làm quen, hướng tới sử dụng thành thạo công nghệ thông tin. Tại một số địa phương, việc triển khai lớp học trực tuyến kết hợp đã mang lại những kết quả tích cực, nhất là khi giáo viên có thể điều chỉnh nội dung phù hợp với từng học sinh.
Hà Nội là một trong những địa phương đi đầu cả nước về thực hiện chương trình hỗ trợ dạy học trực tuyến cho các trường ở vùng cao và khu vực khó khăn. Nhiều cơ sở giáo dục tại Hà Nội đã ký kết chương trình hỗ trợ dạy học trực tuyến cho học sinh lớp 3 và lớp 4 tại một số trường tiểu học thuộc địa bàn Hoàng Su Phì (Tuyên Quang). Đây là những khối, lớp đang thực hiện chương trình, sách giáo khoa theo chương trình giáo dục phổ thông mới. Bên cạnh hỗ trợ công tác chuyên môn, nhiều cơ sở giáo dục ở Hà Nội đã hỗ trợ đồ dùng thiết yếu tặng các em học sinh và thầy, cô giáo trên địa bàn tỉnh.
Bên cạnh đó, việc xây dựng môi trường học tập gần gũi là yếu tố không thể thiếu. Giáo viên cần đưa những nét đặc trưng văn hóa, ngôn ngữ bản địa vào nội dung bài giảng để tạo sự gần gũi, giúp các em cảm thấy thoải mái và tự tin hơn khi học tiếng Việt. Điều này không chỉ giúp học sinh dễ dàng liên hệ kiến thức với đời sống hàng ngày mà còn củng cố bản sắc văn hóa dân tộc.
Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, học liệu cho giáo viên và học sinh
Cơ sở vật chất đầy đủ và hiện đại là nền tảng hỗ trợ hiệu quả cho việc giảng dạy. Nhiều vùng DTTS vẫn đang thiếu thốn trường lớp, bàn ghế và các trang thiết bị cơ bản. Để nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Việt, việc đầu tư xây dựng phòng học đạt chuẩn, phòng học đa năng và thư viện điện tử là rất cần thiết. Những công cụ này không chỉ giúp giáo viên triển khai bài học tốt hơn mà còn khơi gợi hứng thú học tập cho học sinh.
Ông Lê Tiến Quân, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) tỉnh Sơn La, cho biết ngành giáo dục của tỉnh đang tiếp tục triển khai thực hiện theo hướng dẫn của Bộ GDĐT. Trong đó, tỉnh phối hợp với các cơ quan, địa phương tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức và sự ủng hộ của cộng đồng xã hội về tăng cường dạy tiếng Việt cho học sinh DTTS. Đồng thời, chỉ đạo các trường học khai thác, sử dụng hiệu quả các thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi, xây dựng mô hình thư viện thân thiện, thư viện ngoài trời, tạo không gian đọc cho học sinh. Bên cạnh đó, các trường cũng thiết kế môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, xây dựng không gian phòng học với nhiều chữ viết, tiếng Việt để học sinh có nhiều cơ hội đọc, viết tiếng Việt.
Đại diện Sở GDĐT tỉnh Yên Bái chia sẻ, trong vài năm trở lại đây, ngân sách của tỉnh đã dành sự ưu tiên cho hoạt động bổ sung, thay thế, cung cấp thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi, học liệu, phần mềm dạy học tiếng Việt phù hợp cho tất cả các nhóm, lớp, điểm trường mầm non, tiểu học ở các xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn có trẻ em người dân tộc thiểu số. Đồng thời, địa phương cũng phát động phong trào tự làm đồ dùng, đồ chơi tại các đơn vị, khuyến khích các bậc cha mẹ trẻ và cộng đồng dân cư nơi có trẻ DTTS cùng sưu tầm nguyên vật liệu, làm đồ dùng, đồ chơi để bổ sung, tăng cường cho các nhóm, lớp. Các nhà trường phối hợp với cha mẹ trẻ, già làng, trưởng bản biên tập sổ tay từ ngữ tiếng dân tộc để giúp giáo viên có tài liệu học tiếng mẹ đẻ của trẻ.
Học liệu là yếu tố không thể thiếu trong quá trình dạy tiếng Việt. Việc biên soạn các tài liệu đặc thù, như sách giáo khoa song ngữ hoặc các bộ học cụ trực quan, sẽ hỗ trợ giáo viên rất nhiều trong việc truyền đạt kiến thức. Các bộ sách này cần được thiết kế dựa trên nhu cầu thực tế của học sinh, vừa đảm bảo tính chuẩn mực của tiếng Việt, vừa gần gũi với văn hóa của học sinh dân tộc thiểu số. Công nghệ cũng cần được đưa vào sử dụng rộng rãi hơn. Máy tính bảng, máy chiếu và các thiết bị hỗ trợ giảng dạy hiện đại không chỉ giúp giáo viên trình bày bài giảng hiệu quả mà còn tăng cường tính tương tác, kích thích sự tham gia của học sinh.
Bài và ảnh: Lê Châu